KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG QUÊ THƯỜNG NGA - TỔNG LAI THẠCH - HÀ TĨNH

Thứ ba - 25/01/2011 22:09
KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG QUÊ THƯỜNG NGA - TỔNG LAI THẠCH - HÀ TĨNH

KÝ ỨC VỀ MỘT LÀNG QUÊ THƯỜNG NGA - TỔNG LAI THẠCH - HÀ TĨNH

Tiếp phần 1 ...

Để minh chứng cho rừng là vàng, tôi ghi lại một vài cảm xúc của công dân làng Thường Nga lần đầu tiên lên rừng lấy vàng.

Gần 50 năm rồi mà không quyên ngày đầu tiên đi vào rừng xanh chặt củi về nấu bánh chưng ngày tết…

Gà gáy canh 2, bà nội đã lò mò dậy nấu cơm, gói cơm vào mo cau, gọi cháu dậy ăn sáng, sắp xếp dao rạ, đồn gánh cho cháu đi rừng, gà gáy canh 3, không ai bảo ai, đàu làng, ai nấy đều lạnh cóng, không nói, không cười, lầm lũi đi, mỗi người theo mỗi dòng suy nghĩ : người thì nghĩ chiều về có ai đón không, nếu không có chắc tủi thân và sẻ khóc, người nghĩ gánh củi hôm nay mai bán được bao nhiêu đáu gạo và … 

   Đường vào rừng xanh phải đi qua khoảng 7 đỉnh núi, trèo đèo, lội suối, lội khe mới đến chân rừng xanh đại ngàn. Đứng dưới chân rừng đại ngàn mình thật nhỏ bé,phía trước là rừng xanh đại ngàn dựng đứng, cây cối bạt ngàn, trong đó biết bao thú dữ, gai góc, sợ và ớn lạnh, hai chân khuỵu xuống vì biết đâu đó có con thú đói đang chờ mình…Bạn bè cứ tiến vào rừng già, tiến thoái lưỡng nam, tôi không thể lùi được và theo dòng người trèo lên rừng xanh nhất chết.   Tốp 5 người gồm: Nguyễn Công Trí, Nguyễn Thị Huệ, Đường Tự Anh. Tôi Đường Hiền theo lời chỉ dẫn của chú Nguyễn Công Trí, mọi người để tư trang ở nới hơi bằng phẳng của hẻm rừng rồi thông báo: Mỗi người đi mỗi hướng tìm củi khô đưa về tập kế để đóng thành bó gánh vè kẻo trời tối.   Tôi nhìn 4 phía, tim đập dồn dập không giám rời Chú Trí, song mới loáng đã biến lên tận trên dảy rừng già ôm được bó củi gánh về, sỹ nổi lên ( cùng đường) đành liều mạng leo troè loạn xạ chặt được ít củi mang về thì bỏi tập kết củi của chú Trí và mấy người khác đã khá nhiều. Tôi vội lao lên đỉnh núi cao có cây khô thì gặp Huệ Lộc đang loay hoay ôm bó củi đi xuống. Một cảm xúc khó tả, một ánh mắt đồng cảm vội vàng của tuổi 14, phút giây kỳ lạ, đang chặt củi phang ngay vào chính giữa ngón chân cái bên phải đến bây giờ còn để lại vết tích.   Lần đầu tiên tập đi củi đã phải trả học phí, rồi đi đào gốc cây về cho ông bà chống rét khi đập Khe Lang nước rút gốc rễ chỏng chơ củng bị cuốc chim phang vào chân, may có bố của Nguyễn Văn Xí, Nguyễn Văn Túc đi qua thấy đang ngồi ôm chân liền chổ ngồi vào một đầu rỗ, đầu kia là gốc rành rành gánh về nhà, từ đó giác quan thứ sáu mách bảo tôi, muốn tồn tại thì phải làm khác nghề đốn củi. 

 Chuyện vào rừng bắt ong ruồi về nuôi. Đoàn đi lấy ong rừng có ông nội Đường văn Tham, tôi và chú Nguyễn Công Trí, Chú Trí là người dẫn đường vào rừng xanh bắt ong ruồi về nuôi lấy mật. Ông nội và chú Trí đào, bới, chặt… tìm bắt ong Chúa mang về còn tôi làm nhiệm vụ gây tiếng động thật to để thú dữ sợ không giám lại rình mò ăn thịt. Ba người thay nhau tìm ong Chúa, đến chiều vẫn không thấy, chán nản, thu don hành tư trang để về thì từ trong hốc cây một con Ong Chúa to, đen lóp ngóp bò ra, tôi nhanh nhẩu nhè nhẹ vào ống tre đã làm sẵn ở nhà cùng một số ong thợ cho vào tui vải nan mang về, hôm đó ra đến khỏi bìa rừng thì trời tối, chúa phù hộ rừng xanh Thường Nga hồi đó còn vô vàn tài nguyên quý giá mà tôi chưa biết được để viết.

Di sản đền Chùa làng Thường Nga còn nghe nhiều người kể nơi này, nơi kia nhưng lớn lên không thấy di tích nên không ghi vào đây.

Song di sản về nhà thờ của các dòng họ Đường Văn, Đường Đăng, Đường Công, họ Nguyễn Văn, Nguyễn Sỹ, Nguyễn Công, họ Phạm, họ Phan, ho Lương, Họ Ngô, họ Trần, họ Trường và nhiều dòng họ khác thì mãi mãi trường tồn, Nhà thờ do Tộc trưởng từ thế hệ náy sang thế hệ khác quản lý và điều hành các nghi lễ vào ngày Rằm, Tết… nhà thờ thường xuyên tu sửa và tôn tạo ngày càng to hơn, đẹp hơn và gìn giữ, bảo tồn được nét văn hoá người xưa để lại. 

 Làng Thường Nga có khoảng 70% nhà dân được làm bằng gỗ Lim, Táu, Mít, Vàng Tâm…(gỗ khai thác ở rừng), lợp ngói, sân gạch, xung quanh sân gạch có tường bao và cột cổng cao khoảng 2m, xung quanh vườn có tường rào ghép bằng những phiến đá to nhìn xa giống như đàn voi đang vây quanh vườn, có nhà bao bằng tre, cây giới… để chống xói mòn và thú giữ. Cấy cối trong vườn quanh năm hoa, trái đỏ rực, chim về làm tổ ríu rít đông vui, nhà nào cũng có vài ba tổ ong, có nhà hàng chục tổ ong, trong lang hình con Rùa có nơi được đặt tên là: Rú, Lòi, Nương hiểm( vùng đất nhà ông Đường Chương hiện nay đang ở trước có tên là vùng nương hiểm, Giếng Rú). 

  Trong làng, ngoài đồng, trên núi đều có tên: Đồng Ao, Đồng Trộ, Đồng Bệ, Đồng Rậm… Mả ả (tương truyền rằng làng Thường Nga có hai người là vợ vua thời đó…Vua mất, về quê sống đến khi qua đời mai táng ở quê nhà, vùng gần đồng Trấm có tên Mả ả từ đó) 

 Một vùng quê nhỏ bé một thời đã hiện hữu trên chục di sản văn hoá: Đền, Chùa, Đình, Miếu… Không biết nguồn gốc từ đâu? thời nào? Có sử sách nào ghi lại không ? tại sao lại rước hết các Tượng Phật, Bụt đến các xã khác ? 

  Giá mà trước đay không để mai một, không có chính sách chông mê tín dĩ đoan, đền, chùa là trọng điểm mê tín thì bây giừ làng Thượng Nga quanh năm khách thập phương đến chiêm ngưỡng cảnh trời đất và di sản văn hoá làng xã. 

  Làng Thường Nga không những nhiều di sản văn hoá phi vật thể mà còn có một di sản văn hoá không gian củng rực rỡ 

   Hồi nhỏ ông nội tôi kể: Thời trước nan thanh nữ tú đêm trăng sáng tổ chức ca hát, nhảy múa, con trai hầu hết đều biết chơi 3-4 loại nhạc cụ như: Sáo trúc, đàn bầu, nhị, tầm vinh, kèn và nhiều nhạc cụ khác thời chống Pháp truyền bá sang. Nhiều đôi nam nữ yêu nhau thành vợ thanh chông từ tiếng kèn. Trai làng lớn lên đi sang Thái Lan, Lào tìm luồng gió mới, có người đi đến giừ không về nữa

Tương truyền :

Hoa đua nở trên non

Cỏ dập dờn bóng đá

Người lê triều thông thả

Dưới ca vịnh thâu đêm

Trước Thanh Lạng vảng lai

Vừa Đông tây cận chí

Cả canh long tốp thị

Hội bách thổ Thượng Lưu

 - Nghề nuôi Tằm dệt vải hồi đó rất phát triễn, vãi may quần, áo đều từ lá dâu, cây Bông trông trên Nương Mong, Trộ Nác, vườn nhà. Đến mùa kéo kén dệt vải dọc đường cái làng cột, neo, ống sợi, khung dệt cửi tiếng thoi đưa rộn rã buổi trưa hè.

-Nghề đan lát, nghề thợ mộc, nghề rèn củng rất phát triễn. Khung nhà gỗ, tủ ,bàn, cối xay,nong, rỗ ra, giỏ, cuốc liềm… đều tự sản xuất để dùng

- Những ngày lễ, Tết đường làng treo đèn ông sao, đèn kéo quân trên các cành cây dọc đường làng lên sân cụp đến Đình Làng. Buổi tối người lớn tổ chức diễn kịch, nhãy sạp, đánh Tầm vinh… ban ngày các trò chơi dân gian diễn ra khắp nơi trong làng; trò chơi đu Tiên, đu Tay, cờ người, trèo cột cây chuối hái lộc… trẻ con chơi không sót trò nào mà trước đây người đi trước để lại: Những năm tháng xã quê, tiến Tầm vinh, tiếng sáo diều cứ văng vẵng bên tai.

Thâu đêm tiếng sáo ngân dài

Vi vu tiếng vọng muôn đời quê ta

 

-        Nghề bẫy chim, đơm cá, săn bắt thú rừng về làng quậy phá cũng phát triễn (có gia đinh rất giỏi chim trời và bắt cá)

-          Vào mùa chim về, mùa mưa cá ngược dòng nước lên đẻ, làng Thượng Nga có câu: “Đưa tay lên trời bắt được chim, cho tay xuống nước bắt được cá” 

  Mùa khô đạp Khe Lang cạn nước, đến khoảng tháng 7 -8 trời mưa to, nước các triền núi đổ xuống, cá gặp nước cứ thế lao lên theo dòng nước chảy, trời tạnh mưa không xuống kịp dân Thường Nga đứng bên triên núi củng hốt được hàng rỗ cá, dùng nơm úp ven mép hồ cũng được vài giỏ cá.

  Để minh chứng về nghề săn bắt thú rừng về làng phá hoại hao màu Cha chú bẫy lươn rừng bằng cách : Lợn rừng về làng thường đi từng đàn, trên đường đi quen thuộc của lợn, trai làng đào hố chiều dài khoảng 2,75m, rộng 0.9m, sâu 2m, trên mặt hố rải cây cối lau sậy, lợn đi qua sẩy chân rơi xuống hố chờ trai làng đến mang về nhà. 

 Năm 1962 có con Báo hoa, đêm về làng kiếm ăn không kịp vào rừng xanh thì trời đã sáng, Báo phải chui vào lùm cây bên eo núi phía dưới thung lủng trồng lúa. Khoảng gần trưa Báo thấy người làm cỏ lúa liền lao ra tóm vào bụi rậm để thoả cơn đói. 

 Được tin, dân Thường Nga và các xã lân cận giáo mác, súng gươm từng đoàn vào rừng cứu người bị nạn. Tiếng hò reo vang khắp núi rừng làm Bao ta hoảng sợ, hung dữ, liền nhảy ra tóm ngay ông Em Sen cao, to , khoả mạnh( người Kim Lộc) ngưòi và Báo vật nhau với sự cấp bách cứu người Đường văn Chẩn hồi đó lính biên phòng về phép cùng bố vơi Nguyễn Thái An hỗ trợ tiến đến gần người, báo vật nhau, kinh nghiệm 10 năm đánh Pháp ở chiến trường Nam bộ và Thượng Lào, ông Chẩn tìm ví trí thích hợp bóp cò, đạn trúng ngay vào cổ họng Báo, trúng đạn báo từ từ buông thả người bị nạn. Giết được thú dữ mọi người phấn khởi reo hò , tung mũ, nón, gậy gộc, tiếng trống, thanh la vang động khắp núi rừng. 

 Báo được dân Thượng Nga khiêng về treo ở cây đa cạnh sân Cụp được ngày đêm thì hôm sau huyện Đức Thọ cho xe đến chuyển về huyện, mỗi khi kể đến chuyện này dân Thường Nga vừa hạnh diện vùa tiếc nuối để nơi khác lấy mất. 

  Người bị báo vồ hàng năm vào ngày lễ, tết thường đến cảm ơn người đã sinh thành ra ông Đường Văn Chẩn.

Đường Mạnh Tuất

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đang truy cậpĐang truy cập : 8

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 7


Hôm nayHôm nay : 41

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 41001

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 14801333


Từ :Đường Văn Quỳnh
Đến :Người yêu thơ
(Mail :yeutho@ngaloc.org)
Gửi lúc :16.10.2014 10:37

Câu lạc bộ thơ xã Thường nga thông báo :
CLB Thơ xã nhà chuẩn bị ra tập san :
'' Mừng Đảng-Mừng xuân - Mừng quê hương đổi mới'' Đang cần nhiều bài viết về quê hương của con em xa quê .Những người mà Thường nga một thời tràn đầy ký ức hãy đóng góp suy nghĩ của mình cho tập san thêm phần phong phú.Ban biên tập nhận tất cả các thể loại ,thơ ,ca,hò,vè,văn xuôi,hồi ký ,chuyện kể về kỷ niệm về Thiên nhiên - con người Thường Nga. Nếu con,em có nhiệt tình - Bài viết xin gửi về ông Quỳnh trước tháng 12 năm Giáp ngọ

Ban biên tập xin cảm ơn


Bạn đang sống ở đâu?

Nga lộc

Miền bắc

Miền Trung

Miền Nam

1 nơi khác

Hotline : 0898616555